Tiếng Việt :: English
     
 
Cải Cách Giáo Dục Đại học ở Hàn Quốc (27.08.2009)

 
Suh Nam-Pyo, Chủ tịch KAIST
Tiểu sử Tiến sĩ Suh Nam-Pyo:
- Sinh ra vào năm 1936 ở Gyeongju, miền bắc tỉnh Gyeongsang, Nam Triều Tiên.
- Di cư sang Mỹ vào năm 1954. Tốt nghiệp Đại học và Thạc sĩ từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), tốt nghiệp bằng Tiến sĩ (Cơ khí) từ Đại học Carnegie Mellon.
- Làm việc với tư cách giáo sư Cơ khí và Trưởng khoa Cơ khí ở MIT.
- Làm Phó Giám đốc mảng Kỹ nghệ ở Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ trong 4 năm kể từ năm 1984.
- Được bổ nhiệm làm Chủ tịch KAIST (Korea Advanced Institute of Science and Technology - Viện Khoa học & Kỹ thuật Cao cấp của Hàn Quốc) từ tháng 7/2006.
- Cùng lúc làm Giám đốc Nhóm Tìm kiếm Phát triển Động cơ Mới của Tổng thống.
- Tiến sĩ Suh có khoảng 60 bằng sáng chế quốc tế.

Suh Nam-Pyo, Chủ tịch trường KAIST (hay Viện Khoa học & Kỹ thuật Cao cấp của Hàn Quốc) đã thắp đuốc cho việc cải cách giáo dục đại học (ở Hàn Quốc). Kể từ khi tiếp nhận nhiệm sở (ở KAIST) vào tháng 7/2006, ông đã tiến hành hết cải cách này đến cải cách khác. Không còn có chuyện tự động miễn phí học phí ở trường công này nữa; (thay vào đó) sinh viên sẽ trả học phí theo sức học của họ. Đối với đội ngũ giảng viên, đã ra đời hàng loạt cơ cấu khuyến khích sự tranh đua, và họ phải qua một kỳ sát hạch bậc công chức cam go hơn nhiều. Và thật thế, Tiến sĩ Suh đã gây sốc cho giới hàn lâm Hàn Quốc trong năm 2007 bằng cách truất bỏ công nhận chức danh của 15 trong số 35 giáo sư. Hành động này đã phá bỏ quan niệm truyền thống “ở lâu ra lão làng” ở các trường đại học Hàn Quốc. Hơn thế nữa, những cải cách ở KAIST đã ảnh hưởng đến tất cả các đại học khác ở Hàn Quốc.

Cũng trong năm nay, Tiến sĩ Suh đã rung một hồi chuông báo động toàn thể xã hội Hàn Quốc. Ông công bố một công thức mới trong tuyển sinh, phá bỏ lợi thế của các sinh viên theo học ở các trường học thêm tư nhân. KAIST yêu cầu từng hiệu trưởng của khoảng 1,000 trường phổ thông trung học ở khắp Hàn Quốc giới thiệu một sinh viên vào KAIST, và sau đó chỉ chọn ra 300 sinh viên qua quá trình sàn lọc của các viên chức tuyển sinh. Những sinh viên này sau cùng sẽ phải qua những đợt phỏng vấn tỉ mỉ của các giáo sư và chỉ 150 trong số họ, hay 16-18% tổng số sinh viên đăng ký xét tuyển vào KAIST, sẽ được nhận vào trường.

Tiến sĩ Suh cũng tuyên bố rằng kể từ năm 2010, trường của ông sẽ không sử dụng điểm thi của các kỳ thi cả nước về Toán học và khoa học, vốn thường được dùng chính trong việc xét tuyển vào đại học (ở Hàn Quốc). Những cuộc phỏng vắn gắt gao sẽ được tiến hành theo cách không ai có thể chuẩn bị trước cho chúng được bằng cách theo học các lớp ở các hagwon, hay các trường tư dạy thêm bởi các giáo sư ở đại học. Đây là một biện pháp cứng rắn nhằm giải thoát sinh viên khỏi xiềng xích của việc học thêm (ở các trường dạy thêm tư nhân). Tiếp nối cải cách ở KAIST, nhiều đại học khác đã quyết định thay đổi cơ chế xét tuyển của họ để việc luyện thi ở các trường dạy thêm (cho các thí sinh đại học) sẽ không là nhân tố chính quyết định việc trúng tuyển vào các đại học mà sinh viên chọn theo.

Tờ báo tháng Chosun đã phỏng vấn Tiến sĩ Suh vào ngày 6 tháng 3 năm 2009 sau khi KAIST công bố hướng dẫn về xét tuyển sinh viên vào trường.

Hỏi. Kế hoạch xét tuyển của KAIST trong năm 2010 mà ông đã công bố hôm qua có thể là sự khởi đầu trong việc hạn chế việc dạy thêm ở Hàn Quốc.

Trả lời. Việc làm này thực ra là đã quá chậm. Dạy thêm là một vấn đề lớn cho cả quốc gia. Nó lớn đến nổi khoảng nửa chi tiêu cho giáo dục của nước ta là cho thị trường dạy thêm. Nhiều giáo sư đại học tham gia xét tuyển sinh viên vào đại học cũng giảng dạy tại các trường dạy thêm tư nhân này, vì thế đó là một mẫu thuẫn lớn về trách nhiệm và quyền lợi nên tôi muốn thay đổi điều đó. Các giáo sư cần tập trung vào việc giảng dạy ở đại học, chứ không phải là lo đi dạy thêm hay dạy kèm vì lợi ích cá nhân.

Hỏi. Nhiều bậc cha mẹ phụ huynh đã gởi con ra nước ngoài học để thoát khỏi việc dạy thêm và quy trình xét tuyển khó khăn vào các trường hàng đầu (ở Hàn Quốc).

Trả lời. Gần đây, tôi có đi thăm Đại học Queensland ở Úc. Ở đó, tôi được biết là có đến 7,000 sinh viên Hàn Quốc. Số lượng sinh viên như vậy là bằng với tổng số sinh viên đang theo học ở KAIST. Chừng 20% sinh viên của Đại học Queensland đến từ các nước khác, cung cấp cho trường này một nguồn thu nhập đáng kể. Sinh viên Hàn Quốc thực sự là nhóm sinh viên quốc tế đông nhất ở đó. Phải có nhiều lý do vì sao họ đến đó học, nhưng nếu lượng tiền bỏ ra để học ở nước ngoài mà được sử dụng một cách khôn ngoan ở trong nước, thì môi trường giáo dục của Hàn Quốc sẽ được cải thiện đáng kể. Sẽ mất nhiều thời gian để giải quyết những vấn đề như vậy.

Hỏi. Sẽ mất bao lâu để kết thúc tình trạng dạy thêm ở Hàn Quốc?

Trả lời. Mọi thứ ở Hàn Quốc được quyết định qua thi cử. Dưới triều đại Joseon, có hệ thống gwageo, bao gồm rất nhiều kỳ thi cử quan trường quan liêu. Và đến giờ vẫn còn quá nhiều thi cử trong hệ thống giáo dục của chúng ta khiến cho sinh viên chỉ tập trung chuẩn bị cho thi cử trong khi thực sự có nhiều điều khác cần học khi ở trường. Cần phải thay đổi, nhưng sẽ tốn không ít thời gian.

Dĩ nhiên, có nhiều người lợi dụng hiện trạng ngày nay để tổ chức các lớp dạy thêm hay luyện thi. Chúng ta cần đánh giá lại mức độ cần thiết của hệ thống ngày nay qua việc xem xét xem nó có phục vụ mục đích thực sự của giáo dục hay không. Tôi không thể đảm bảo rằng hệ thống xét tuyển mà chúng tôi công bố hôm qua là tốt nhất, nhưng hiện tại, tôi tin rằng nó là một chuyển đổi đang được ưa chuộng nhất. Sau 10 hay 20 năm nữa khi xã hội đã thay đổi, có thể sẽ có những nhìn nhận khác về vấn đề này.

Hỏi. Có phải ông nghĩ rằng kế hoạch xét tuyển năm 2010 của KAIST là cần thiết để tạo ra thay đổi, cho dù nó có thể không phải là tốt nhất?

Trả lời. Vâng. Nếu không có thử nghiệm thì sẽ chẳng có thay đổi gì hết. Tôi cũng công nhận rằng có thể là không hợp lý khi chỉ cho phép mỗi trường trung học giới thiệu đúng 1 sinh viên (vào KAIST) mà thôi, trong khi thực tế là một số trường trung học có thể lớn gấp hai hay ba lần các trường khác.

Hỏi. Ông không nghĩ rằng cũng cần phải xét đến sự khác biệt về trình độ dạy và học ở các trường khác nhau?

Trả lời. Nếu chúng tôi cũng xét đến những yếu tố như vậy, thì quy trình xét tuyển sẽ trở nên cực kỳ phức tạp. Dù sao thì chúng tôi cũng chọn ra 150 trong số 1,000 ứng viên và chúng tôi cho họ một cơ hội mà từ trước đến nay chưa hề có. Chúng tôi cho cơ hội, nhưng thật sự là tùy thuộc vào người sinh viên để nắm bắt lấy cơ hội đó. Cơ hội (nói chung) thì nên được ban phát một cách công bằng cho cả các sinh viên ở vùng nông thôn hay xuất thân từ các gia đình nghèo khó.

Hỏi. Thế còn vấn đề thiên vị trong quá trình giới thiệu sinh viên vào trường ông thì sao?

Trả lời. Chúng tôi có thể bị lừa một lần, nhưng cũng chỉ một lần đó mà thôi. Nếu một hiệu trưởng trường trung học nào đó không giới thiệu được sinh viên giỏi (vào KAIST), thì sẽ bị ghi nhận lại trong cơ sở dữ liệu của chúng tôi. Hiện nay, cơ sở dữ liệu này đang cung cấp thông tin về những sinh viên từ các trường trung học (khoa học) nào thì học tốt và những sinh viên từ các trường trung học nào khác thì lơ là trong học tập.

Hỏi. Trường ông có một cơ sở dữ liệu về những trường trung học khoa học cũng như về các trường trung học đặc biệt khác nhưng dường như là chưa có về những trường trung học thông thường?

Trả lời. Chúng tôi sẽ nhanh chóng hoàn tất việc xây dựng cơ sở dữ liệu về tất cả các trường trung học. Chúng tôi cũng sẽ phỏng vấn cả giáo viên (trung học) và các kết quả đó cũng sẽ được lưu trữ lại trong cơ sở dữ liệu. Nếu sinh viên được giới thiệu bởi những trường trung học nào đó tỏ ra không thích hợp cho việc học ở KAIST, thì từ đó về sau, chúng tôi sẽ không nhận tiếp sinh viên từ những trường đó nữa.

Hỏi. Trường ông không chú trọng việc tuyển các sinh viên đạt điểm cao trong các kỳ thi của cả nước về Toán và khoa học. Nhưng chúng ta cũng thường thấy rằng những kỳ thi đó khuyến khích sinh viên chăm chỉ học hành hơn.

Trả lời. Các trường trung học khoa học ở Hàn Quốc luôn có chuẩn đào tạo khá cao. Nhưng mọi thứ sẽ trở nên sa sút nếu cứ đi theo hướng đó mãi. Mỗi hệ thống đều cần phải được xem xét và chỉnh sửa lại nếu phát hiện ra các khuyết điểm. Hệ thống xét tuyển sinh viên mà chúng tôi tính áp dụng cũng sẽ cần được chỉnh sửa lại một lúc nào đó.

Hỏi. Từ góc độ là Chủ tịch KAIST, ông nghĩ nhân cách nào của con người là được ưa chuộng nhất?

Trả lời. Mọi người hay nghĩ rằng người ta học tất cả mọi thứ từ trường học. Nhưng điều này là không thể nào khi thế giới ngày nay luôn thay đổi và nhiều kiến thức mới liên tục được tạo ra. Ngày nay, giáo dục nên tập trung vào việc đào tạo ra những con người có thể xác định vấn đề, xác lập mục tiêu, tự suy nghĩ và học tập. Chứ làm sao chúng ta có thể dạy hết tất cả mọi kiến thức ở trường được?

Ở KAIST, chúng tôi nhắm đến mục tiêu đào tạo ra những người giỏi nhất trong thế giới khoa học và kỹ thuật. Khi những người giỏi nhất là lãnh đạo tiên phong, thì (chắc chắn) những người khác sẽ tiếp bước họ. Những người chỉ quen với việc học theo hướng một chiều từ thầy cô thường có thể làm việc tốt ở vị trí thứ hai, nhưng không phải là vị trí (số một) lãnh đạo. Trong giới khoa học và kỹ thuật, một số người có thể xác định vấn đề và tiếp cận chúng trong khi một số khác chỉ làm việc tốt khi được giao việc gì đó cụ thể. Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc cần đào tạo ra nhiều hơn nữa những người trong nhóm đầu tiên. KAIST (vì thế) muốn tìm kiếm và đào tạo ra những người như vậy.

Hỏi. Ý ông ở đây là về những lãnh đạo có nhiều sáng kiến?

Trả lời. Vâng. Có ít người biết lãnh đạo hơn là những người chỉ biết nghe theo. KAIST thu hút những sinh viên xuất sắc, và cùng với cơ sở vật chất tốt và thầy bà giỏi, chúng tôi sẽ tạo ra những nhà lãnh đạo có nhiều sáng kiến. Khi tuyển giảng viên, chúng tôi cũng luôn chú ý đến những ứng viên tốt nghiệp từ các đại học danh tiếng và có những kinh nghiệm nghề nghiệp độc đáo. Nhưng rồi một số trong nhóm đó sẽ bị loại khi chúng tôi (trực tiếp) phỏng vấn họ. Một người giảng viên giỏi phải có khả năng lôi cuốn hút viên vào việc tự học qua các ý tưởng sáng tạo mang tính dẫn dắt. Để tìm ra những giáo sư như vậy không phải là dễ, nhưng chúng tôi ngày càng có nhiều tiến bộ trong vấn đề này.

Hỏi. Ông có gặp phải trở ngại gì khi sàn lọc sinh viên chủ yếu qua hình thức phỏng vấn không?

Trả lời. Vâng. 3 giáo sư đã phỏng vấn chừng 40 đến 50 thí sinh (xin vào trường tôi) trong vòng 3 ngày, 14 giờ mỗi ngày. Đến trưa ngày thứ 3, họ thấy quá mệt mỏi và khó khăn trong chọn lựa vì hầu hết các sinh viên đều rất xuất sắc. Ban đầu, họ thấy khá dễ để chọn ra nhóm sinh viên tốp trên và tốp dưới, nhưng rồi họ thấy rất khó khi chọn lựa trong số các sinh viên không khác nhau gì mấy (trong nhóm tốp trên). Đôi khi, yếu tố may mắn có thể là quyết định ở đây. Khi chấm thi cũng vậy, hầu hết các giáo sư cho điểm rất khắt khe khi mới bắt đầu chấm nhưng sau đó họ nhận ra rằng thế là sai và vì thế cho điểm rộng tay hơn. Tôi cũng không phải là ngoại lệ với hiệu ứng này.

Hỏi. Từ kinh nghiệm giảng dạy lâu năm ở Mỹ, ông thấy hệ thống thi cử ở Hàn Quốc có những hạn chế gì?

Trả lời. Khi (bài thi) có các câu hỏi khó, thì thường có thể có nhiều hơn một câu trả lời đúng. Người giáo sư có lẽ (hơn hết) nên kiểm tra khả năng suy luận của sinh viên. Ở Hàn Quốc, người ra thi thường yêu cầu sinh viên trả lời đúng một câu trả lời (mà họ cho là) đúng. Ai cũng biết là (trong thực tế, ví dụ) có nhiều đường để đi đến Busan từ Seoul. Chúng ta nên dạy cho sinh viên cách suy nghĩ và trở thành một người học suốt đời.

Hỏi. Triết lý then chốt được giảng dạy ở KAIST là gì?

Trả lời. Khi mới về KAIST, tôi đã đặt ra mục tiêu biến nó thành trường khoa học và kỹ thuật mạnh nhất thế giới. Tôi đã lập ra 9 kế hoạch hành động để đạt được mục tiêu này, và mỗi kế hoạch lại đặt ra những đầu việc cụ thể thực tế. Những đầu việc này được phân chia giữa các đồng nghiệp của tôi ở trường, và tôi giám sát cách thức họ hoàn thành các đầu việc đó. Khi các giáo sư và cán bộ trường tự phát triển cách thức hoàn thành các đầu việc đó, thì cũng giúp hình thành hệ thống hoạt động tổng thể (của trường). Điều này không ít thì nhiều cũng giống với công việc của giới truyền thông. Trong quá trình xuất bản báo chí, cần có người quyết định xem ai sẽ làm việc gì và ai có những trách nhiệm gì và thực hiện chúng ra sao. Đây là hình thức “suy nghĩ thiết kế hệ thống.” Dự án tái thiết một đất nước cần có một thiết kế lớn. Một quốc gia cần có một thiết kế tốt để có thể phát triển phồn vinh. Và một chủ tịch (đại học) phải là một nhà thiết kế giỏi.

Hỏi. KAIST chính thức sáp nhập Đại học Thông tin và Truyền thông (ICU) vào cách đây vài ngày. Tác động của sự sáp nhập hai đại học do Nhà Nước quản lý này sẽ là như thế nào?

Trả lời. Lợi ích chính yếu của sự sáp nhập này là nó tạo ra yếu tố lượng cần thiết cho phát triển chất và phát triển bền vững, vốn đòi hỏi một kích cỡ (đại học) cụ thể. Trong ngành Công nghệ Thông tin, KAIST có 90 giáo sư và ICU có 46 trong khi các đối thủ cạnh tranh với chúng ta ở nước ngoài như MIT, CMU và Stanford có vào khoảng 200 giáo sư IT (từng trường). Chúng ta cần thêm độ 50 giáo sư nữa để có khả năng cạnh tranh tốt hơn trong mảng Công nghệ Thông tin. Và MIT có 100 giáo sư Sinh học trong khi KAIST chỉ có chừng hơn 20. Để cải thiện hiện trạng này, tôi đã đề xướng với Viện Nghiên cứu Sinh học và Kỹ nghệ Sinh học Hàn Quốc (KRIBB), vốn ở gần trường KAIST, cùng phối hợp trong nghiên cứu. Nhưng cũng có nhiều người chống lại kế hoạch này, và tôi chẳng hiểu vì sao họ lại chống đối vậy.

Hỏi. Nhưng là Chủ tịch trường, ông cũng phải ra quyết định dứt khoát chứ.

Trả lời. Tôi có tham gia nhưng quyết định là của các giáo sư và phòng ban. Đó là vì tôi không phải là chuyên gia trong mọi ngành. Nhưng tôi sẽ đóng góp ý kiến.

Hỏi. Các giáo sư sẽ nghe theo ông khi ông ra ý tưởng nào đó, đúng không?

Trả lời. Tôi nghĩ rằng sẽ không hay nếu họ cứ theo ý tôi ngay lập tức. Một đại học sẽ không hoạt động tốt nếu tất cả các giáo sư cứ răm rắp làm theo những gì Chủ tịch bảo. Tôi muốn các giáo sư tự quyết định sau khi tham khảo đề nghị của tôi. KAIST là một tổ chức hoạt động tập trung theo từng phòng ban. Trưởng các phòng ban mới thật sự là ông sếp chính. Vì thế một số giáo sư ở tuổi 30s đã có bậc công chức giáo sư trong khi một số khác ở tuổi 50 thì vẫn không có.

Hỏi. Quy trình sàn lọc bậc giáo sư (ở KAIST) đã gây không ít bất mãn trong đội ngũ giảng viên.

Trả lời. Vâng. Những ai không qua được quy trình sàn lọc bậc giáo sư thì nghĩ rằng chúng tôi có hệ thống sàn lọc tệ nhất trong khi những người qua được thì thật sự tin rằng đó là hệ thống tốt nhất thế giới.

Hỏi. Tổng thống Lee Myung-bak đã dự Lễ Tốt nghiệp Năm 2009 ở trường ông. Hai ông đã có cơ hội nào để thiết lập tình thân với nhau chưa?

Trả lời. Chưa. Tôi đã gặp ông ta lần đầu tiên khi ông đi thăm Daejeon với tư cách là ứng viên Tổng thống. Nhiều người đã đề nghị tôi nên thảo luận với ông ta về đầu tư Nhà nước cho khoa học và kỹ thuật, nhưng tôi đã từ chối. Có quá nhiều sức ép vì ngân sách của KAIST có thể bị ảnh hưởng trực tiếp, và Phó Tổng thống lúc đó đang có buổi trình bày.

Sau đó, tôi có gặp Tổng thống Lee vài lần ở Hội đồng Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia. Qua trao đổi với Tổng thống, tôi thấy có nhiều điểm tương đồng trong cách nghĩ của chúng tôi. Ông đã đồng ý với tôi khi tôi phát biểu về việc nên phát triển xe chạy bằng điện và các hải cảng di động, nhưng nhiều quan chức ở các Bộ dường như đã không hiểu ý tôi lắm.

Hỏi. Tổng thống Lee đã mời ông làm Giám đốc Nhóm Tìm Kiếm Phát triển Động Cơ Mới của Tổng thống?

Trả lời. Bộ Kinh tế Kiến thức đã liên hệ và mời tôi làm ở vị trí đó. Qua các hoạt động công quyền theo sau đó, tôi đã làm quen được với nhiều người, và họ đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi không biết tôi đã đóng góp được gì cho nhóm, nhưng tôi tin chắc rằng mình đã thu được nhiều ích lợi từ đó.

Hỏi. Ông nghĩ rằng KAIST đã đóng góp được gì vào sự phát triển của các ngành động cơ mới của thế kỷ 21?

Trả lời. Đóng góp quan trọng nhất là những công nghệ độc đáo. Các học viện như KAIST cần phát triển ra những công nghệ độc đáo mà Hàn Quốc có thể bán được ra nước ngoài. Cảng di động và xe chạy bằng điện là những dự án có nhiều hứa hẹn, dưới góc độ này.

(“Cảng di động” là một hệ thống vận chuyển hàng hải do KAIST phát triển, cho phép tàu thuyền cất dỡ hàng hóa khi neo đậu ngoài khơi do cảng hàng đông đúc và tắt nghẽn. Được trang bị động cơ riêng và có kèm theo hệ thống bốc dỡ, cảng di động sẽ chủ động tiếp cận các tàu hàng đang neo đậu ngoài khơi.)

Hỏi. Dự án cảng di động có nhận được sự ủng hộ của Chính phủ hay không?

Trả lời. Chúng tôi đang cố gắng đăng ký xin nguồn tài trợ của Chỉnh phủ. Một số người trong Chính phủ đã hết lòng vì dự án này trong khi một số khác thì chống nó đến cùng vì những lý do mà tôi chẳng thể nào hiểu được.

Hỏi. Thế còn dự án “xe chạy bằng điện” do KAIST phát triển thì sao?

Trả lời. Đây là một dự án rất quan trọng, hứa hẹn sẽ giải quyết được nhiều vấn đề về ô nhiễm và chi phí cao của năng lượng. Nó thích hợp cho những thành phố như Seoul nhưng có nhiều người chống lại việc thương mại hóa sản xuất ra nó.

Hỏi. Tổng thống Lee đã lái thử chiếc xe chạy điện, nhưng Chính phủ vẫn chưa có quyết định cuối cùng. Vì sao?

Trả lời. Tôi chẳng thể nào hiểu được. Dự án này hiện đang bị đình trệ vì sự phủ quyết của một số trưởng ban ngành trong khi Tổng thống đã chấp nhận nó. Những người chống đối cũng chẳng phải là các khoa học gia. Những mẫu xe chạy điện trước đây thường đòi hỏi hệ thống pin rất lớn trong khi mô hình của KAIST chỉ yêu cầu một hệ thống thông pin khá nhỏ. Tôi luôn tin rằng sản phẩm tốt hơn sẽ luôn đánh bại những sản phẩm dở hơn. Những kỹ thuật tiên tiến hơn sau cùng sẽ là người chiến thắng.

Hỏi. Ông nghĩ khi nào thì KAIST sẽ vượt được MIT, nơi ông đã từng theo học?

Trả lời. Trong vòng 10 năm nữa, tôi tin là vậy. Để tôi nói cho anh hiểu. KAIST thành lập Khoa Hệ thống Hàng hải năm nay, trong khi MIT thì lại bỏ khoa này đi. Lâu lắm rồi, họ chỉ dạy đóng tàu thuần túy và sinh viên không có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tế, trong khi khoa này thì giờ lại bị sáp nhập vào khoa Cơ khí. Ở KAIST, chúng tôi dạy về cảng di động cũng như đóng tàu ở khoa Hệ thống Hàng hải mới thành lập của mình. Chúng tôi còn thua ở một số mảng nhưng vẫn hơn ở nhiều mảng khác. Tôi chắc rằng chúng ta sẽ vượt MIT trong chừng 10 năm nữa.

Hỏi. Xin hỏi các quyên góp (tài chính) cho trường có diễn ra ổn thỏa không?

Trả lời. Chúng tôi đã quyên góp được 70 tỷ won (hay 60 triệu USD) năm ngoái và chúng tôi khá lạc quan về kế hoạch (sắp tới) quyên góp 1 ngàn tỷ won cho trường.

Hỏi. Ông có thể cho biết vấn đề khó khăn nhất trong việc quyên góp tài chính là gì?

Trả lời. Đối với một người ở tuổi như tôi, không phải dễ để đi quanh hỏi xin người khác đóng góp tiền của mà họ đã khó khăn lắm mới kiếm ra được. Nhưng chẳng có cách nào khác. Tôi phải điều hành một cái trường mà.

Hỏi. Người ta thường nói rằng ông là nhà khoa học gốc Hàn có nhiều khả năng đạt giải Nobel nhất.

Trả lời. Tôi không phải là một nhà khoa học mà là một kỹ sư và tôi cũng chẳng thích giải Nobel hay gì khác như vậy. Cái gì đến thì nó sẽ đến. Bạn cần phải đặt mục tiêu nghiên cứu thực thụ và đóng góp cho xã hội. Nghiên cứu chỉ để đạt giải thưởng thì lại chẳng có mấy ý nghĩa.

Hỏi. Ông nghĩ gì về khả năng đạt giải Nobel của các khoa học gia Hàn Quốc?

Trả lời. Tôi khá lạc quan về điều này. Có nhiều giáo sư trẻ xuất chúng ở Hàn Quốc, những người đang tham gia vào các công trình nghiên cứu rất thú vị. Nhưng quan trọng ở đây là phải biết quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu của họ cũng như trao đổi với các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới. Toàn cầu hóa mang ý nghĩa rất quan trọng ở khía cạnh này.

Hỏi. Ông so sánh như thế nào về môi trường và văn hóa của giới hàn lâm ở Hoa Kỳ và Hàn Quốc?

Trả lời. Những giáo sư Mỹ nổi tiếng mà tôi biết đến đều là những người nghiện việc. Họ công hiến hết sức mình cho việc nghiên cứu và chẳng thích thú điều gì khác. Bạn sẽ chẳng thể nào trở thành một học giả vĩ đại nếu bạn để mắt hết chỗ này đến chỗ khác. Một trường đại học sẽ phát triển khi nó có nhiều những giáo sư như vậy. Tôi muốn nói là chẳng có mấy giáo sư MIT là dân mê chơi đánh golf. Đơn giản là vì họ chẳng có thời gian để ra sân golf. Tôi thì thấy có rất nhiều dân chơi golf giỏi trong đám giáo sư ở Hàn Quốc.

Hỏi. Các giáo sư Hàn Quốc có hợp tác tốt với nhau trong nghiên cứu không?

Trả lời. Điều tôi nhận thấy đầu tiên khi mới về Hàn là các giáo sư (ở đây) rất hiếm khi thảo luận các vấn đề hàn lâm khi nói chuyện riêng với nhau. Họ nói chuyện với nhau về đủ mọi thứ trừ các vấn đề hàn lâm. Đây là điều tôi thấy rất khác với những gì đã chứng kiến ở Mỹ, nơi các giáo sư luôn sẵn lòng trao đổi ý kiến của mình trong các lĩnh vực học thuật. Thực ra cũng tốt cho sinh viên nếu họ làm vậy nữa. Điều chúng ta cần làm với các đồng nghiệp trong giới hàn lâm (trong nước) là rộng lòng chia sẻ những gì chúng ta đang nghiên cứu hay đã đạt được. Những ý tưởng mới thường nảy sinh trong quá trình trao đổi như vậy với nhau. Tôi cảm thấy khích lệ hơn là giờ đây dần dần có nhiều giáo sư trẻ (ở Hàn Quốc) có thái độ theo hướng tích cực này.

Hỏi. Điều gì là khó khăn nhất trong công cuộc cải tổ KAIST của ông?

Trả lời. Thuyết phục người khác có lẽ là khó nhất. Tôi đã phải giảng giải cho các giáo sư về mục đích của các thay đổi và cố gắng có được sự đồng thuận của họ để đạt được các mục tiêu. Nhưng tôi đã không thể thuyết phục được tất cả mọi người dù cho đã cố gắng hết sức. Có lẽ chừng một nửa các giáo sư vẫn nghĩ rằng hệ thống cũ là tốt hơn. Khi họ nói rằng cái gì đó là “tốt” hay “xấu,” thì hầu hết tùy thuộc vào việc họ nhìn nhận là họ có thu được lợi gì từ điều đó hay không.

Hỏi. Ông qua Mỹ từ lúc còn trẻ. Vậy ông có lưỡng lự khi quyết định trở lại Hàn Quốc sau nhiều năm như vậy hay không?

Trả lời. Quyết định trở về thực sự là không dễ chút nào. Có nhiều việc để tôi làm ở Mỹ, và đó là lý do tại sao tôi đã không về sớm hơn dù cho có nhiều cơ hội (ở Hàn Quốc). Tôi cũng phải cân nhấc về con cái và việc học của chúng, nhưng rồi thì chúng đã lớn cả nên tôi quyết định trở về, và giờ thì dường như là tôi đã có một quyết định đúng đắn.

Hỏi. Ông có nghĩ rằng đây sẽ là cơ hội cuối cùng để phục vụ Tổ quốc hay không?

Trả lời. Nói vậy có lẽ nghe lớn lao quá. Tôi luôn chăm chỉ làm việc nhưng không biết tôi có đóng góp được gì lớn cho đất nước hay không.
2
Các tin tức đã đăng:
   Carnegie Mellon Giúp Kiến Tạo Sản Phẩm Mang Tầm Nhìn Lớn (24.05.2009)
   Quy Trình Ra Quyết Định của NASA qua Kính Hiển Vi (15.03.2009)
   Website Tận Dụng Trí Tuệ Con Người (01.11.2008)
   Vang Danh một Nhà Khoa Học Trẻ của Việt Nam ở Nước Ngoài (25.10.2008)
 
     
     
Đại học Carnegie Mellon
 
Đại học Duy Tân
 
Đại học Văn Lang
 
DTT Corp.
 
Đại học Cần Thơ
 
     
     

Các Giảng Viên DTU