Tiếng Việt :: English
     
 
Quy Trình Ra Quyết Định của NASA qua Kính Hiển Vi (15.03.2009)

 

Giáo sư Fischbeck với một miếng sứ bảo vệ cách nhiệt của tàu con thoi
Khi Hội đồng Hàng không và Không gian Quốc gia, NASA (National Aeronautical and Space Administration) chuẩn bị cho chuyến bay của tàu Discovery trong tháng 12/2006, (những) tính toán đầy đủ và chính xác về các rũi ro – giúp quyết định độ an toàn của phi hành gia trên tàu – là đặc biệt quan trọng lúc ra quyết định cuối cùng có phóng tàu đi hay không.

Để tránh những lỗi máy tính có thể xảy ra trong đêm giao thừa, NASA đã chịu sức ép phải tiến hành hành trình bay kéo dài 12 ngày, trước ngày 18 tháng 12 năm 2006. Paul Fischbeck, giáo sư Kỹ nghệ và Chính sách Hành chính của Đại học Carnegie Mellon, hy vọng là sức ép này sẽ không khiến dẫn đến những quyết định sai lầm (của NASA).

Để minh họa, Fischbeck bắt đầu lượt lại quyết định của NASA trong việc phóng tàu Challenger vào buổi sáng ngày 28 tháng 1 năm 1986.

“Họ biết rằng có vấn đề với vỏ chắn của tàu,” Fischbeck nhớ lại. “Một trong những tiêu chuẩn là chỉ phóng tàu đi khi nhiệt độ (trung bình trong không khí) lớn hơn 50 độ F (Fahrenheit). Trước đó, họ cũng đã từng phóng tàu đi khi nhiệt độ vào khoảng bốn mươi mấy độ đó gần năm mươi, nhưng trong cái ngày phóng tàu Challenger, nhiệt độ là dưới 32 độ F. Các kỹ sư đã khuyên giới lãnh đạo là đừng nên phóng. Không may thay, giới lãnh đạo NASA đã không chịu nghe theo lời khuyên đó.”

Challenger nổ 73 giây sau khi được phóng lên. Một bản tường trình của phủ Tổng thống về tai nạn này sau đó đã kết luận rằng nguyên nhân của vụ nổ là do một vòng-O trong điểm nối giữa hai phần dưới của động cơ rắn bên phải của tên lửa phóng bị hỏng. Nhiệt độ băng giá trước thời điểm phóng đã làm hư những vòng nối này, khiến cho khí nóng đẩy tên lửa bên ngoài đốt cháy vào trong buồng nhiên liệu ngoài.

Fischbeck cũng tin rằng những gì xảy ra với tàu Columbia trong năm 2003 lại là một ví dụ nữa về thất bại của Hội đồng Không gian trong việc đánh giá đầy đủ về (các) rũi ro, khi quyết định cần nên làm gì. Ở đợt phóng đi mới đầu trong chuyến bay yểu mệnh của tàu Columbia, một miếng bọt xốp lớn bằng một chiếc vali đã rơi ra và đụng vào động cơ bay theo quỹ đạo (của tàu).

“Thế là họ [NASA] đã họp lại,” Fischbeck nói. “Các kỹ sư nói rằng họ muốn dùng các vệ tinh để xem xét lại các hư hại trên tàu. Giới lãnh đạo NASA đã trả lời rằng, ‘Không việc gì phải lo về điều đó.’”

Columbia và phi hành đoàn đã mất mạng khi bay trở về vào bầu khí quyển trái đất; phi thuyền bị cháy trên bầu trời Texas khi khí siêu nóng thẩm thấu qua cánh của tàu. Và Fischbeck, người đã từng nghiên cứu các mảnh vụn rơi ra từ bình nhiên liệu ngoài của tàu con thoi khi còn đi học cao học, bất chợt lại trở thành điểm chú ý của cả nước.

“Chúng tôi đã tính toán được từ những năm 1991-92 là khả năng của một tai nạn như vậy là có thật,” Fischbeck nói. “Chúng tôi đã mô hình hóa việc Columbia có thể bị rơi ra sao, và khi điều đó trở thành hiện thực, chúng tôi phải mang đủ thứ tiếng xấu.”

Một điều tra độc lập về nguyên nhân vụ tai nạn tàu Columbia đã kết luận rằng miếng bọt xốp rơi ra khỏi bình nhiên liệu đã làm hỏng hệ thống bảo vệ cách nhiệt trên động cơ bay theo quỹ đạo (của tàu).

Một bản tường trình đau lòng dài đến 248 trang đã chỉ ra cụ thể 8 “cơ hội cứu nguy” khác nhau đã bị bỏ lỡ trong hành trình bay dài 16 ngày của tàu, trong đó có một email không bao giờ được hồi đáp của một kỹ sư NASA bốn ngày sau khi hành trình đã diễn ra, yêu cầu Trung tâm Không gian Johnson xem lại đã lệnh kiểm tra thiệt hại trên cánh trái của tàu Columbia hay chưa, và việc Trưởng Hành trình Bay của NASA đã từ chối lời đề nghị của Bộ Quốc phòng cho chụp ảnh vệ tinh kiểm tra lại (các) thiệt hại của tàu.

Bản tường trình tiếp tục kết luận rằng văn hóa tổ chức của NASA có liên quan đến tai nạn tàu Columbia không thua gì miếng bọt xốp đã rơi ra đó.

“Khuynh hướng của giới lãnh đạo chỉ chấp nhận những ý kiến giống với của họ đã gây đứt đoạn cho những dòng thông tin liên lạc có hiệu quả,” theo bản tường trình. Nó cũng nêu lên rằng NASA chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm thành công trong quá khứ thay cho những quy tắc (xử lý) kỹ thuật vững chắc.

Tuy nhiên, hai năm rưỡi sau đó, sau khi đã tiêu tốn hàng tỷ đôla, NASA “đã phóng tàu Discovery, trong khi vẫn chưa chữa lỗi đó,” theo Fischbeck. Trong chuyến bay trở về của tàu Discovery vào ngày 26 tháng 7 năm 2005, một miếng bọt xốp nặng một cân Anh đã rơi ra khỏi bình nhiên liệu ngoài, và xém đụng vào động cơ bay theo quỹ đạo.

“Trong năm 2005, tàu con thoi được trang bị đủ thứ camera, cung cấp một lượng thông tin chưa từng thấy về tình trạng của động cơ bay theo quỹ đạo trong không gian,” Fischbeck nói. “Nhưng họ vẫn không sửa chữa vấn đề đó. (May là) Lúc đó họ đã quá may mắn.”

Ngày nay, giới lãnh đạo của NASA luôn cẩn thận chú ý mọi việc hơn nhiều. Họ đã tháo bỏ giá bọt xốp đáng lo ngại khỏi bình nhiên liệu ngoài trước khi phóng Discovery vào ngày 4 tháng 7 năm 2006. Và một lỗ nhỏ trên tàu Atlantis, mà nhiều người tin là do các mảnh vụn trong không gian gây ra trong chuyến bay vào tháng 9/2006, cũng đã được điều tra kỹ càng.

Với dự tính còn khoảng một tá chuyến bay nữa trước khi đội tàu con thoi được cho về vườn vào năm 2010, không biết NASA đã học thông các bài học của họ chưa? “Hy vọng là vậy,” Fischbeck trả lời.
 
(Theo Carnegie Mellon Today)
2
Các tin tức đã đăng:
   Website Tận Dụng Trí Tuệ Con Người (01.11.2008)
   Vang Danh một Nhà Khoa Học Trẻ của Việt Nam ở Nước Ngoài (25.10.2008)
   Lợi Thế của Ấn Độ Vượt Khỏi Việc Gia Công (24.10.2008)
   Cần Gì để Làm Được Việc (22.10.2008)
 
     
     
Đại học Carnegie Mellon
 
Đại học Duy Tân
 
Đại học Văn Lang
 
DTT Corp.
 
Đại học Cần Thơ
 
     
     

Các Giảng Viên DTU